Khu thí điểm mậu dịch tự do Trung Quốc (Quảng Tây)
I. Tình hình tự nhiên
1. Vị trí địa lý
Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nằm ở vị trí trong khoảng từ 104°28’ đến 112°04’ kinh độ Đông, 20°54’ đến 26°24’ vĩ độ Bắc, giáp các tỉnh Quảng Đông, Hồ Nam, Quý Châu, Vân Nam, đối mặt với đảo Hải Nam, phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ, hướng về Đông Nam Á.
2. Tài nguyên tự nhiên
Diện tích đất hành chính Quảng Tây là 237,6 nghìn km2, chiếm 2,5% diện tích đất cả nước, tổng lượng cung ứng đất xây dựng quốc hữu khoảng 19 nghìn hecta.
Chủng loại tài nguyên khoáng sản của Quảng Tây phong phú, trữ lượng lớn, đặc biệt là kim loại màu như nhôm, thiếc, Quảng Tây là một trong 10 vùng sản xuất kim loại màu trọng điểm của cả nước. Hiện nay cả tỉnh phát hiện 145 loại khoáng sản (bao gồm khoáng sản phụ), chiếm 45,8% chủng loại khoáng sản trữ lượng tài nguyên đã tham dò của cả nước; mỏ đã tham dò được gồm 97 loại khoáng sản, trong đó 64 loại có trữ lượng đứng top 10 cả nước, 12 loại đứng đầu cả nước.
Quảng Tây sông ngòi rất nhiều, tài nguyên thuỷ lợi phong phú, tổng lượng tài nguyên nước là 237,73 tỷ m3. Sông ngòi ở đây thuộc 4 lưu vực sông chính: lưu vực sông Châu Giang, lưu vực sông Trường Giang, lưu vực sông Quế Nam đổ thẳng ra biển, lưu vực sông Bách Đô, trong đó lưu vực sông Châu Giang quan trọng nhất.
Quảng Tây có tài nguyên biển phong phú, đường bờ biển dài 1796 km, đường bờ biển khúc khuỷu, đầm trũng nhiều và rộng, cảng tự nhiên nhiều, có 21 cảng lớn nhỏ có thể khai thác, diện tích bãi biển khoảng 10 hecta, có rừng ngập mặn với diện tích lớn nhất cả nước. Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía nam không chỉ là ngư trường nổi tiếng của Trung Quốc, mà còn là kho tàng sở hữu vô vàn chủng loại sinh vật biển của thế giới.
3. Phân chia hành chính và dân số
Có 14 thành phố cấp địa phương, gồm Nam Ninh, Liễu Châu, Quế Lâm, Ngô Châu, Bắc Hải, Cảng Phòng Thành, Khâm Châu, Quý Cảng, Ngọc Lâm, Bách Sắc, Hạ Châu, Hà Trì, Lai Tân, Sùng Tả, trong đó, Nam Ninh, Ngọc Lâm, Sùng Tả, Khâm Châu, Cảng Phòng Thành, Bắc Hải hợp thành khu hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ, là một khu vực trọng điểm trong công cuộc khai thác và hợp tác mở rộng hướng về Asean của miền Tây Trung Quốc. Tổng dân số hộ khẩu toàn tỉnh là 56 triệu người, dân số thường trú là 48,85 triệu người, trong đó dân số thành thị 24,04 triệu người, chiếm 49,2%, dân số từ 15 đến 64 tuổi là 33,188 triệu người, chiếm 67,94%.
4. Dân tộc
Khu tự trị Quảng Tây là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, dân số dân tộc thiểu số là 20,04 triệu, chiếm 42,5% dân số thường trú, là tỉnh có dân số dân tộc thiểu số nhiều nhất cả nước. Có 12 dân tộc sinh sống nhiều đời tại đây, như Choang, Hán, Dao, Mèo, Đồng, Mục Lao, Mao Nam, Hồi, Kinh, Di, Thuỷ, Ngật Lão, ngoài ra còn có 44 dân tộc khác như Mãn, Mông Cổ, Triều Tiên, Bạch, Tạng, Lê, Thổ Gia, vv…, trong đó dân tộc Choang có dân số đông nhất, 16,98 triệu người, chiếm 36% dân số thường trú tại đây.
5. Khí hậu
Quảng Tây nằm ở vị trí vĩ độ thấp, chí tuyến bắc đi ngang trung tâm, nam giáp biển nhiệt đới, bắc giáp dãy núi Nam Lĩnh, tây giáp cao nguyên Vân Nam - Quý Châu, thuộc khu vực khí hậu gió mùa nhiệt đới châu Á. Khí hậu ấm áp, nước mưa phong phú, ánh nắng dồi dào. Mùa hè thời gian có nắng dài, khí hậu cao, mưa nhiều, mùa đông thời gian có nắng ngắn, khí hậu khô, ấm. Nhiệt độ trung bình trong năm mỗi vùng từ 17,5 đến 23,5℃.
Tình hình giao thông
Quảng Tây trải qua nhiều năm xây dựng, khung mạng lưới giao thông 3D đã cơ bản hình thành, 14 thành phố cấp địa phương và 89% huyện (của thành phố và khu tự trị) đã có đường cao tốc, tổng chiều dài đường sắt Quảng Tây đạt 5191 km, tổng chiều dài đường sắt cao tốc đạt 1771 km, tổng chiều dài đường cao tốc 5259 km; cảng vịnh Bắc Bộ mỗi năm lưu lượng hàng hoá đạt 350 triệu tấn, qua lại thương mại với hơn 250 cảng thuộc hơn 100 quốc gia và khu vực, có 79 bến cấp mười nghìn tấn, sản lượng 31,9 triệu container tiêu chuẩn; hiện nay Quảng Tây đã xây 7 sân bay dân sự, gồm Nam Ninh, Liễu Châu, Quế Lâm, Ngô Châu, Bắc Hải, Hà Trì, Bách Sắc, lượng khách mỗi năm đạt hơn 27,66 triệu lượt.
Tình hình môi trường sinh thái
Năm 2019, tỷ lệ số ngày chất lượng không khí môi trường thành phố tốt đạt 91,7%, PM2.5 bình quân nồng độ giảm 2.9%. Tỷ lệ nước bề mặt có chất lượng tốt đạt 96,2%, nước gần đường bờ biển có chất lượng tốt đạt 90,9%, chất lượng môi trường nước bề mặt tại 6 khu vực của tỉnh lọt top 10 cả nước, tỷ lệ giảm thiểu nước hôi thối thành phố đạt 90%. Tỷ lệ xử lý vô hại hoá rác sinh loạt thành thị đạt trên 99%. Độ phủ xanh 62,45%. Thành tích xử lý sa mạc hoá đứng đầu cả nước. Quảng Tây có 29 vùng đất trường thọ, cũng là tỉnh có nhiều vùng đất trường thọ nhất Trung Quốc.
II. Ưu thế chính sách
Ngày 16 tháng 1 năm 2008, chính phủ phê duyệt thực hiện “Quy hoạch phát triển khu kinh tế vịnh Bắc Bộ Quảng Tây”, chỉ ra cần phải xây dựng khu kinh tế vịnh Bắc Bộ trở thành cơ sở logictics, cơ sở thương mại, cơ sở chế tạo gia công và trung tâm giao lưu thông tin hợp tác mở rộng Trung Quốc - ASEAN, trở thành điểm sáng chiến lược để kích thích và gánh vác công cuộc khai thác miền Tây và sự hợp tác kinh tế khu vực quốc tế có độ mở cửa cao, tầm ảnh hưởng mạnh, kinh tế phồn hoa, xã hội yên ổn, môi trường sinh thái tốt. Do đó, chính phủ đã đưa ra những chính sách ủng hộ trên 5 phương diện: cải cách đồng bộ tổng hợp, bố cục dự án tầm vóc lớn, hệ thống logictics bảo thuế, cải cách tài chính, hợp tác mở rộng. Đẩy mạnh khai thác mở rộng khu kinh tế vịnh Bắc Bộ không chỉ đem lại cơ hội to lớn cho sự phát triển khu kinh tế vịnh Bắc Bộ, mà còn góp phần quan trọng nhằm nâng cao trình độ phát triển tổng thể và tiến bộ toàn diện của kinh tế xã hội Quảng Tây.
Năm 2009, Quốc vụ viện công bố “Một số ý kiến về thúc đẩy hơn nữa sự phát triển xã hội kinh tế Quảng Tây của Quốc vụ viện”, chỉ ra cần phải đưa Quảng Tây trở thành cực tăng trưởng phát triển kinh tế duyên hải mới của nước ta, đồng thời là điểm sáng hợp tác kinh tế khu vực quốc tế, ngoài ra cần tăng cường nguồn vốn thanh toán chuyển dịch tài chính Trung ương và mức dự kiến đầu tư của Trung ương cho Quảng Tây, ban hành và hoàn thiện những chính sách thuế liên quan, đồng thời các cơ quan trực thuộc Quốc vụ viện phải đưa ra biện pháp chính sách cụ thể để phát triển kinh tế xã hội Quảng Tây, hoàn thiện những quy hoạch liên quan.
Tháng 7 năm 2010, trong cuộc họp về công tác khai thác miền Tây tại Bắc Kinh, trong “Một số ý kiến về đẩy mạnh thực hiện chiến lược khai thác miền Tây của Quốc vụ viện Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc” cũng như bài phát biểu của các vị lãnh đạo của Đảng và nhà nước, đã trực tiếp nhắc tới Quảng Tây 15 lần, bao gồm cần phải xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng như hành lang “Tứ tung” (từ bờ sông đến Cảng Phòng Thành và những nơi khác), hành lang quốc tế “Tứ xuất cảnh” (đối tượng là các nước ASEAN); trọng điểm triển khai xây dựng hệ sinh thái xử lý tổng hợp sa mạc hoá tại các khu vực phía Tây Nam, trong đó có Quảng Tây; xây dựng và hoàn thiện khu công nghệ cơ sở thạch hoá các vùng, ví dụ như Quảng Tây; thúc đẩy khu kinh tế vịnh Bắc Bộ Quảng Tây và các khu kinh tế khác trở thành cực tăng trưởng kinh tế có sức ảnh hưởng toàn quốc, lôi kéo sự phát triển của tất cả các ngành nghề Quảng Tây, thể hiện rõ nét sự quan tâm sâu sắc đối với sự phát triển Quảng Tây của Trung ương, tiếp thêm động lực cho công cuộc viết trang sử mới “dân giàu Quảng Tây mạnh” .
Năm 2017, Uỷ ban phát triển cải cách quốc gia ban hành “Quy hoạch ‘kế hoạch phát triển 5 năm lần thứ 13’ khai thác miền Tây”, tiến hành bố trí toàn diện công cuộc khai thác miền Tây trong thời kì “kế hoạch phát triển 5 năm lần thứ 13”, nhiều thành phố của Quảng Tây xuất hiện trong cục diện không gian tổng thể phát triển miền Tây “Ngũ hoành lưỡng tung nhất hoàn”. Trong 10 nhiệm vụ trọng điểm và công trình tầm vóc được nêu ra, có nhiều dự án đề cập đến xây dựng nhiều lĩnh vực của Quảng Tây như đường sắt, đường cao tốc, sân bay, không vận, cảng biển, công nghệ mới, năng lượng mới, sinh học y tế, vv…
Trong khi nhiều chính sách ưu đãi của Trung ương liên quan đến Quảng Tây, các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước cũng vô cùng coi trọng sự phát triển của Quảng Tây. Tháng 3 năm 2015, tổng bí thư Tập Cận Bình trong khi xem xét ý kiến đoàn đại biểu Quảng Tây cuộc họp lần thứ 3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12, yêu cầu Quảng Tây phải phát huy hết sức ưu thế giáp đường bộ, đường biển với các nước ASEAN, xây dựng hành lang quốc tế hướng về ASEAN, hình thành điểm tựa chiến lược mới để phát triển mở rộng khu vực Tây Nam, Trung Nam, trở thành cửa ngõ quan trọng kết nối Con đường tơ lụa trên biển thế kỉ 21 và Đai kinh tế con đường tơ lụa. Tháng 4 năm 2017, tổng bí thư Tập Cận Bình đến Quảng Tây thị sát, nhấn mạnh rằng, tiềm lực phát triển của Quảng Tây nằm ở mở cửa, đà phát triển cũng nằm ở mở cửa, có điều kiện phát huy nhiều tác dụng hơn nữa trong công cuộc xây dựng “một vành đai một con đường”. Hàng loạt chỉ dẫn quan trọng của tổng bí thư Tập Cận Bình về Quảng Tây đã chỉ ra đường đi rõ ràng giúp Quảng Tây có thể tham gia toàn diện vào công cuộc xây dựng “một vành đai một con đường”, toàn lực thực hiện chiến lược kích thích mở cửa chủ động tích cực hơn nữa, không ngừng mở ra cục diện phát triển mới.
Hiện nay, Quảng Tây đang ở trong thời kì then chốt, các chính sách ưu đãi và chiến lược phát triển chồng lên nhau, đây cũng là giai đoạn phát triển mới, duy trì mức phát triển kinh tế nhanh và liên tục trong thời kì vận hội quan trọng, kiên trì năm lý luận phát triển “sáng tạo, điều chỉnh, lành mạnh, mở cửa, cùng thắng” và sứ mệnh mới “ba định vị quan trọng”, Quảng Tây sẽ không ngừng thúc đẩy nâng cấp chuyển biến ngành nghề, thúc đẩy công nghiệp hoá tiến lên giai đoạn cao hơn; đồng thời, nhờ ưu thế giáp đường bộ, đường biển với ASEAN, mở rộng giao lưu trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ hình thành cục diện hợp tác mở cửa trong và ngoài nước mới.
III. Ưu thế sinh thái
Quảng Tây nằm ở phía đông nam của cao nguyên Vân Nam - Quý Châu, phía tây đồi núi thấp, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, địa hình karst khá nhiều, rừng núi phân bố rộng rãi, chất lượng môi trường nước, không khí, biển tốt, môi trường sinh thái dễ chịu, thích hợp để sinh sống.
Về môi trường nước, Quảng Tây có tỷ lệ nước bề mặt có chất lượng tốt đạt 98,1%, tỷ lệ nước mất chức năng sử dụng bằng 0, cả hai chỉ số này đều đứng đầu cả nước. Chất lượng nước lưu vực sông Châu Giang và sông Trường Giang đều đạt mức “xuất sắc”, chất lượng nước lưu vực đổ thẳng ra biển về tổng thể đạt mức “khá”.
Về môi trường biển, hiện nay đường bờ biển Quảng Tây dài 1769 km, diện tích bãi biển đạt 833 km2. Nước gần đường bờ biển có chất lượng tốt đạt, tỷ lệ nước biển loại I, II đạt 81,8%, thuộc top đầu cả nước. Tài nguyên sinh vật biển phong phú, không những có chủng loại sinh vật biển đa dạng hoá, có các loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng như cá heo trắng, nhân ngư, mà còn có hệ thống sinh thái tự nhiên biển điển hình như rừng ngập mặn, rạn san hô, tảo, trong đó diện tích rừng ngập mặn đạt 7300 hecta, chiếm 40% diện tích rừng ngập mặn cả nước, đứng đầu cả nước.
Về môi trường không khí, độ phủ xanh Quảng Tây đạt 62,3%, chất lượng sinh thái thảm thực vật và mức độ cải thiện sinh thái thảm thực vật đứng đầu cả nước; tỷ lệ số ngày chất lượng không khí môi trường thành phố tốt đạt 93,5%, đứng thứ hai cả nước.
Môi trường sinh thái xanh tốt đã đem lại cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp cho Quảng Tây, hình thành thánh địa du lịch quốc tế Quế Lâm, khu nghỉ dưỡng du lịch quốc tế vịnh Bắc Bộ, khu du lịch quốc tế dưỡng sinh trường thọ Ba Mã và một số tài nguyên du lịch cao cấp có trình độ quốc tế khác. Hiện nay, Quảng Tây có 136 khu cảnh quan cấp 4A, có 71 khu du lịch thôn quê đạt mức bốn sao, có 3 khu hình mẫu du lịch sinh thái quốc gia, có 10 khu hình mẫu du lịch toàn khu quốc gia, có 3 thành phố thí điểm du lịch thông minh, những tài nguyên này phân bố ở nhiều nơi trên địa bàn Quảng Tây, trở thành yếu tố quan trọng thu hút du khách đến với Quảng Tây.
IV. Ưu thế tài nguyên
Về tài nguyên tự nhiên, chủng loại tài nguyên khoáng sản của Quảng Tây phong phú, trữ lượng lớn, đặc biệt là kim loại màu như nhôm, thiếc, Quảng Tây là một trong 10 vùng sản xuất kim loại màu trọng điểm của cả nước, chiếm 45,8% chủng loại khoáng sản trữ lượng tài nguyên đã tham dò của cả nước, trong đó 64 loại có trữ lượng đứng top 10 cả nước, 12 loại đứng đầu cả nước. Trong 45 loại mỏ khoáng sản có năng lực chống đỡ sự phát triển kinh tế quốc dân, trữ lượng tài nguyên đã tham dò được của Quảng Tây có 35 loại. Quảng Tây có tài nguyên thuỷ lợi phong phú, sông ngòi rất nhiều, diện tích lưu vực toàn tỉnh đạt 23,67 km2, lượng trữ tài nguyên thuỷ lợi đạt 21,33 triệu kw, trong đó sông Hồng Thuỷ dài 658 km, bãi nhiều nước siết, được mệnh danh là mỏ vàng của tài nguyên thuỷ điện Trung Quốc. Năm 2017, lượng tài nguyên nước bề mặt và nước ngầm của Quảng Tây lần lượt đạt 217,7 tỷ m3 và 52,9 tỷ m3, lượng tài nguyên nước bình quân đầu người đạt 3375 m3, cao hơn 43% so với bình quân cả nước. Diện tích rừng của Quảng Tây đạt 14,79 triệu hecta, độ phủ xanh đạt 62,3%.
Về tài nguyên nhân lực, tài nguyên sức lao động của Quảng Tây dồi dào, dân số thường trú cả tỉnh là 48,38 triệu người, 28,41 triệu người có công việc, bình quân mỗi năm tăng thêm 1,6 triệu lao động mới, trong đó mỗi năm có hơn 400 nghìn sinh viên tốt nghiệp từ các trường trung cấp. Dân số từ 15 đến 59 tuổi mỗi năm chiếm khoảng 68% dân số toàn tỉnh, kết cấu tuổi tương đối hợp lý, cung cấp sức lao động dồi dào. Đồng thời, tỷ trọng dân số được đào tạo từ trường cao đẳng, đại học tăng dần mỗi năm, tỷ trọng dân số được đào tạo từ trường cao đẳng trở lên từ 2,6% vào năm 2000, đã tăng lên 9,21% vào năm 2016.
Về tài nguyên sáng tạo, hiện nay Quảng Tây có 2 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, 3 trung tâm nghiên cứu kĩ thuật công trình quốc gia, 3 phòng thí nghiệm công trình quốc gia, 11 trung tâm (phòng thí nghiệm) nghiên cứu công trình liên hợp địa phương quốc gia, 8 trung tâm kĩ thuật doanh nghiệp cấp quốc gia, 641 doanh nghiệp kĩ thuật công nghệ cao cấp quốc gia, 7 máy ấp nở doanh nghiệp kĩ thuật cấp quốc gia. Về mặt người tài tầm vóc, toàn tỉnh có 1,53 triệu chuyên viên kĩ thuật, có 36 nguời được chọn vào “Công trình nhân tài bách thiên vạn quốc gia”.
Nguồn tin: Cục xúc tiến đầu tư khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây
Trong trường hợp vi phạm bản quyền, hãy liên hệ với chúng tôi